ví dụ về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Môi trường Marketing vi mô bao gồm 7 yếu tố sau: khách hàng, nhân viên, nhà cung ứng, nhà phân phối/ bán lẻ, đối thủ cạnh tranh, cổ đông, chính phủ, công chúng. Các yếu tố này có tác động khác nhau đến công ty. Ta lấy ví dụ về yếu tố nhà cung cấp. Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhƣợng quyền thương mại ở Việt Nam. 2.2.1 4.2.1. Đối với thỏa thuận về giá bán hàng hóa, dịch vụ. 2.2.2 4.2.2. Đối với thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ. 2.2.3 4.2.3. Vụ việc Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Ngày 15 tháng 9 năm 2008, tại Phan Thiết, Bình Thuận, 15 doanh nghiệp bảo hiểm (DNBH) phi nhân thọ tham gia Hội nghị đã thống nhất ký Bản Thỏa thuận hợp tác giữa các DNBH trong lĩnh vực bảo hiểm xe cơ giới và Điều khoản Biểu phí Trên thực tế, để chứng minh được hậu quả của tội vi phạm quy định về cạnh tranh là không hề dễ dàng đối với cơ quan điều tra. Ví dụ như để chứng minh hậu quả của thỏa thuận phân Cùng với việc áp dụng chính sách khoan hồng trong điều tra, xử lý thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thì kết quả thực thi của nhiều cơ quan cạnh tranh trên thế giới đã tăng lên, ví dụ, số đơn xin hưởng khoan hồng đã tăng lên đáng kể giúp cho Cơ quan chống độc quyền của lirik lagu titanic my heart will go on terjemahan. Danh mục Báo cáo khoa học ... cnh tranh gay gt s dn n tỡnh trng cnh tranh khụng lnh mnh, hn ch cnh tranh v c quyn tt yu s xut hin. Theo kinh t hc, hn ch cnh tranh v c quyn c hiu nh l kt qu ng nhiờn ca quỏ trỡnh cnh tranh ... tin hnh hot ng cnh tranh kinh t, phỏp lut quy nh rừ v gii hn cho phộp ca cỏc hnh vi cnh tranh, quy nh quyn v ngha v ca cỏc ch th tham gia cnh tranh, t ú, khuyn khớch cnh tranh lnh mnh, ngn ... phỏt trin u ban hnh lut cnh tranh iu tit cỏc quan h cnh tranh trong nn kinh t, c bit l chng li cỏc hnh vi cnh tranh khụng lnh mnh v kim soỏt cỏc hnh vi hn ch cnh tranh cng nh mi xu th dn... 5 628 3 Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là gì? Đặc điểm của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh? Phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh? Các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm?Trong xu thế phát triển kinh thế thế giới nhanh chóng và dễ bị đào thải thì buộc các doanh nghiệp phải nỗ lực để đạt được nhiều lợi thế hơn các đối thủ. Khi đối mặt với vấn đề cạnh tranh có rất nhiều vấn đề phát sinh đặc biệt là khả năng thu lợi nhuận và sự tồn vong của doanh nghiệp. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường tạo ra cho các doanh nghiệp áp lực giảm giá thành, cải tiến chất lượng và đa dạng hóa hàng hóa, dịch vụ mà mình cung cấp. Để giảm áp lực cạnh tranh và gia tăng lợi nhuận ngắn hạn, các doanh nghiệp có thể tìm cách liên kết với nhau thay vì nỗ lực điều chỉnh, nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển trong bối cảnh mới. Các doanh nghiệp nhằm duy trì thị phần và lợi nhuận kinh doanh đã dàn xếp và thỏa thuận với nhau dấn tới là sự độc quyền hóa thị trường, theo đó các vấn đề quan trọng của thị trường như giá cả, sản lượng, khách hàng,…không còn tuân thủ theo quy luật thị trường mà bị khống chế bởi một nhóm các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận. Tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí qua tổng đài Mục lục bài viết 1 1. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là gì? 2 2. Đặc điểm của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 3 3. Phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh 4 4. Các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm Thỏa thuận theo được định nghĩa là “hoạt động giữa hai hay nhiều người với nhau bằng hành vi hoặc không bằng hành vi để nhằm đạt được một cùng mục đích nhất định” Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được coi là hành vi giữa các các chủ thể thống nhất ý chí để nhằm đạt được mục đích kinh doanh nhất định. Khái niệm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, cho ta cái nhìn toàn diện về thuật ngữ nàyDưới góc độ kinh tế học, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được nhìn nhận là sự thống nhất cùng hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh góc độ khoa học pháp lý có thể hiểu thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất ý chí của từ 2 chủ thể kinh doanh trở lên được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, có hậu quả làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường. Như vậy, có thể hiểu, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất cùng hành động của nhiều doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ sức ép của cạnh tranh hoặc hạn chế khả năng hành động một cách độc lập giữa các đối thủ cạnh tranh. Pháp luật Việt Nam chưa có một định nghĩa cụ thể thế nào là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại điều 11 Luật cạnh tranh 2018. 2. Đặc điểm của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Thứ nhất, về chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các doanh nghiệp hoạt động độc lập. Theo Luật Cạnh tranh 2018 thì thỏa thuận hạn chế cạnh tranh diễn ra giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp theo quy định của luật doanh nghiệp 2014 thì được hiểu là tổ chức kinh tế có tên riêng, tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định và được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Còn trong pháp luật cạnh tranh thì doanh nghiệp bao gồm tổ chức, cá nhân kinh doanh. Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận phải hoạt động độc lập với nhau và hoàn toàn không phụ thuộc với nhau về tài chính. Ý chí của các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận cũng phải là ý chí độc lập của mối bên, không thể bị ép buộc. Thỏa thuận hạn chế cạnh trang có thể diễn ra giữa các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau trên một thị trường liên quan hoặc giữa các bên không phải đối thủ của vậy, trường hợp công ty mẹ – công ty con, hay giữa công ty với đại lý của mình có sự thỏa thuận thì không coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Thứ hai, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chỉ được hình thành khi có sự thống nhất ý chí của các bên tham gia thỏa thuận. Sự thống nhất cùng hành động giữa các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận được thể hiện công khai hoặc không công khai. Đây là dấu hiệu quan trọng nhất của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các hành vi giống nhau của các doanh nghiệp chưa đủ để chứng minh là đã có thỏa thuận giữa họ, mà phải có sự thống nhất ý chí cùng hành động của các bên tham gia thỏa thuận. Ở dấu hiệu này, chúng ta cần phân biệt sự thống nhất ý chí của các doanh nghiệp với sự thống nhất về mục đích của doanh nghiệp khi tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Khi thống nhất thực hiện hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, các doanh nghiệp có thể cùng hoặc không cùng một mục đích theo đuổi./ Ví dụ Đều cùng tham gia một thỏa thuận nhưng doanh nghiệp A có mục đích mở rộng thị trường nhưng doanh nghiệp B lại muốn loại bỏ một doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh Nội dung thỏa thuận thường là về việc ấn định giá, phân chia thị trường tiêu thụ, hạn chế nguồn cung. Pháp luật Việt Nam chỉ ghi nhận một thỏa thuận vi phạm một trong các hình thức vi phạm thỏa thuận hạn chế cạnh tranh khi đã có đủ bằng chứng kết luận giữa họ đã tồn tại một hợp đồng chính thức bằng văn bản hợp đồng, bản ghi nhớ…; hoặc có thể bằng hình thức không thành văn bản như các cuộc gặp mặt, họp bàn… nhưng phải có sự ghi nhận ở những tài liệu liên quan. Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể nhằm cùng một mục đích hoặc nhiều mục đích khác nhau. Tuy nhiên, dù với mục đích nào thì doanh nghiệp đã có sự thống nhất ý chí về cùng thực hiện một hành động nào đó đều bị coi là hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Yếu tố hành vi được coi là điều kiện cơ bản, bởi nếu mới chỉ dừng lại ở ý định, ý tưởng những chưa có sự thỏa thuận trên thực tế thì không thể coi là thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Thứ ba, hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là làm giảm sức ép cạnh tranh, làm sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị trường. Thỏa thuận cạnh tranh gây ra cho thị trường sự xóa bỏ cạnh tranh, các đối thủ trên thị trường sẽ không còn cạnh tranh nữa. Hậu quả của nó có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người tiêu dùng và gây thiệt hại cho các doanh nghiệp không tham gia việc thỏa thuận. 3. Phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Tại Điều 11 Luật Cạnh tranh 2018 thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm các hành vi sau đâyThỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận; Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận; Thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận khác gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh; Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể phân loại theo hai dạng là thỏa thuận theo chiều ngang và thỏa thuận theo chiều dọc như sau Thỏa thuận theo chiều ngang là thỏa thuận giữa các doanh nghiệp có cùng ngành hàng hoạt động trên cùng một thị trường liên quan như thỏa thuận giữa các nhà sản xuất hay giữa những nhà những nhà bán buôn hoặc giữa những nhà bán lẻ của những loại sản phẩm tương tự nhau. Nội dung của thỏa thuận liên quan đến ấn định giá mua bán hàng hóa, dịch vụ, phân chia thị trường, ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia thị trường, thông đồng trong đấu thầu, hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ. Thỏa thuận theo chiều dọc là các thỏa thuận liên quan đến việc bán lại những sản phẩm từ nhà sản xuất hay nhà cung cấp, do đó nó diễn ra giữa các doanh nghiệp ở các công đoạn khác nhau trong quá trình sản xuất, phân phối sản phẩm như thỏa thuận giữa nhà sản xuất và nhà phân phối. Thỏa thuận theo chiều dọc không tạo ra khả năng khống chế thị trường. Các thỏa thuận phổ biến theo chiều dọc thường có các nội dung phân phối độc quyền theo lãnh thổ, giao dịch độc quyền, buộc các doanh nghiệp tham gia vào mạng lưới phân phối của nhà sản xuất…; thỏa thuận ấn định giá bán lại. 4. Các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm Pháp luật Việt Nam chỉ công nhận 11 hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tại điều 11 Luật cạnh tranh 2018 và cấm các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sau đây Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp; Thỏa thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 11 của Luật cạnh tranh 2018 Thỏa thuận để một hoặc các bên tham gia thỏa thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ; Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh; Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên tham gia thỏa thuận. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan quy định tại các khoản 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 11 của Luật này khi thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường Thỏa thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư; Thỏa thuận áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thỏa thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng; Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thỏa thuận; Thỏa thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thỏa thuận; Thỏa thuận khác gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định quy định tại các khoản 1, 2, 3, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 11 của Luật cạnh tranh 2018 khi thỏa thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường. Trong bài viết lần này tôi xin góp một số ý kiến về phân loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Chương II của dự luật. Điều này có thể tham khảo kinh nghiệm Luật Cạnh tranh của EU. Tôi tin là ban soạn thảo có biết vấn đề này và mong được trao đổi để hiểu rõ hơn. From To luatcanhtranh Sent Saturday, July 12, 2003 957 PMSubject Luat canh tranh can phan biet thoa thuan ngang voi thoa thuan doc 1. Sự cần thiết phải phân biệt thoả thuận ngang/thoả thuận dọc Trong Luật Cạnh tranh của Liên minh châu Âu EU xuất hiện hai thuật ngữ thoả thuận ngang "ententes horizontales" và thoả thuận dọc "ententes verticales". Cơ sở là communication của Uỷ ban châu Âu ngày 22/12/2001 xem Công báo của EU số C 368/13 ngày 22/12/2001, thay thế communication ngày 9/12/1997. Theo các quy định này, thoả thuận ngang được hiểu là các thoả thuận được thực hiện giữa các chủ thể là các tác nhân kinh tế doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp... nằm ở vị trí ngang nhau của chu trình sản xuất, phân phối hoặc lưu thông hàng hóa. Ví dụ thoả thuận giữa các tác nhân cùng là nhà sản xuất với nhau hoặc giữa các tác nhân cùng là nhà phân phối với nhau... Còn thoả thuận dọc được hiểu là các thoả thuận được thực hiện giữa các chủ thể là các tác nhân kinh tế nằm ở vị trí khác nhau của cùng một chu trình sản xuất, phân phối hoặc lưu thông hàng hóa. Ví dụ thoả thuận giữa các tác nhân là nhà sản xuất với nhà phân phối. Trên thực tế, thoả thuận ngang thường được thực hiện dưới các hình thức sau - Thoả thuận ấn định giá giữa các doanh nghiệp đang là các đối thủ cạnh tranh với nhau; - Thoả thuận thống nhất về các khoản tiền thưởng, khuyến mại...cho khách hàng mua nhiều sản phẩm hoặc mua một sản phẩm nào đó; - Trao đổi thông tin giữa các bên tham dự thầu trong cùng một vụ đấu thầu; - Thoả thuận phân chia thị trường; - Thoả thuận nhằm loại bỏ hoặc hạn chế sự tham gia vào thị trường của một hoặc một số doanh nghiệp khác... Còn thoả thuận dọc trên thực tế thường được thực hiện dưới hình thức áp đặt cho các doanh nghiệp khác điều kiện ký hợp đồng tham gia mạng lưới phân phối tiêu thụ sản phẩm hoặc buộc các doanh nghiệp này chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng. Trên cơ sở phân tích dưới giác độ kinh tế, người ta đã đi đến kết luận rằng thông thường thì các thoả thuận ngang sẽ gây nhiều tác động xấu đến sự vận hành của thị trường hơn là các thoả thuận dọc. Vì các thoả thuận dọc được thực hiện trong cùng một chu trình hoặc một dây chuyền với nhau. Ví dụ thoả thuận giữa hãng nước hoa nổi tiếng của Pháp Yves Rocher với các đại lý của mình trên toàn quốc về các điều kiện tham gia hợp đồng đại lý. Thoả thuận này, nếu có được thực hiện, thì mức độ gây ảnh hưởng đến thị trường đến đâu còn phụ thuộc rất nhiều vào sức mạnh cạnh tranh của các hãng nước hoa khác. Trong khi đó, trong trường hợp thoả thuận ngang nếu có khoảng vài ba hãng nước hoa lớn của Pháp mà thoả thuận với nhau ấn định giá bán của sản phẩm thì mức độ ảnh hưởng thường sẽ lớn hơn, có thể sẽ "phá giá" nước hoa và làm các hãng nước hoa còn lại, nhất là các hãng có sức cạnh tranh không lớn, lâm vào tình trạng khó khăn, thậm chí là phá sản. Dựa trên cơ sở này mà Luật Cạnh tranh của EU đã có cách phân hoá rất rõ ràng để xử lý thích hợp đối với mỗi trường hợp như sau tất nhiên là có các trường hợp được miễn trừ - Các tác nhân kinh tế tham gia thoả thuận ngang sẽ bị xử lý nếu có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan là 10%; - Trong khi đó các tác nhân kinh tế tham gia thoả thuận dọc chỉ bị xử lý khi có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan là 15%; 2. Kiến nghị xử lý vấn đề này trong dự thảo Luật Cạnh tranh Dự luật hiện chưa có sự phân biệt này. Thật ra nếu dựa theo phân tích trên thì có thể thấy các loại thoả thuận nêu ở điểm a, b, c, e, g của Điều 8 dự thảo Luật Cạnh tranh hiện nay chính là thoả thuận ngang; còn thoả thuận nêu ở điểm d của Điều 8 có thể tạm gọi là thoả thuận dọc. Hướng xử lý mà ban soạn thảo đưa ra là lấy ngưỡng chung cho cả hai loại thoả thuận thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị coi là gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường nếu các bên tham gia có thị phần kết hợp trên thị trường liên quan từ 25% trở lên Điều 10 dự thảo. Chọn phương án này có mặt thuận lợi là tương đối dễ hiểu, dễ áp dụng trong thực tế. Trong các vụ việc cụ thể không phải lúc nào cũng dễ dàng xác định đâu là thoả thuận ngang hay thoả thuận dọc, bởi lúc đó phải phân tích kỹ lưỡng cả dưới giác độ kinh tế lẫn pháp luật. Tuy nhiên, trong cơ chế điều chỉnh pháp luật, đặc biệt là Luật Cạnh tranh - luật điều tiết trị trường - việc quy các nhóm hành vi có bản chất kinh tế khác hẳn nhau về cùng một nhóm và đưa ra cùng một loại chế tài có thể sẽ gây ra hậu quả là việc điều tiết và xử lý các hành vi đó không chính xác vì không đảm bảo sự cá thể hoá ở mức độ cần thiết. Và như vậy, sẽ không phát huy được tác dụng của các quy phạm luật cạnh tranh với tính chất là các quy phạm đảm bảo trật tự công cộng "odre public" trong lĩnh vực kinh tế. Tôi tin là ban soạn thảo cũng đã biết rõ quy định này của EU và cũng đã có sự cân nhắc khi thiết kế các điều luật trong dự thảo như đã nêu ở trên. Tuy nhiên, vì sao không phân hoá các thoả thuận hạn chế cạnh tranh thành thoả thuận ngang và thoả thuận dọc và dựa trên cơ sở nào để đặt ra ngưỡng chung là 25%, chứ không phải là 15, 20 hay 30%? Rất mong nhận được sự trao đổi của ban soạn thảo dự án Luật để tôi cũng như các bạn đọc khác quan tâm có điều kiện hiểu rõ hơn vấn đề này. 3. Nhân đây tôi muốn trao đổi lại với bạn Nguyễn Ngọc Đại xung quanh chủ đề xung đột pháp luật trong Luật Cạnh tranh Trong bài viết ngày 3/7/2003, bạn Nguyễn Ngọc Đại viết "Trong bài viết ngày 19/6, bạn Nguyễn Hữu Huyên cho rằng chúng ta không chỉ bổ sung vào dự thảo Luật Cạnh tranh quy phạm xung đột pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh mà cả về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng thống lĩnh...”. Tôi đã kiểm tra lại toàn văn bài viết ngày 19/6 của tôi thì thấy chỉ có lập luận sau "Điều 835 Bộ luật Dân sự chỉ đề cập đến bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong khi các hành vi vi phạm Luật Cạnh tranh rất đa dạng thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh... chứ không chỉ bó hẹp trong vấn đề bồi thường thiệt hại do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra". Lập luận này chỉ có ý nghĩa duy nhất là muốn nói về phạm vi hẹp của Điều 835 Bộ luật Dân sự hiện hành, và cũng chỉ có vậy thôi chứ người viết hoàn toàn không có ý và toàn bộ bài viết cũng không có chỗ nào thể hiện là "bạn Nguyễn Hữu Huyên cho rằng chúng ta không chỉ bổ sung vào dự thảo Luật Cạnh tranh quy phạm xung đột pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh mà cả về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng thống lĩnh". Quan điểm của tôi trước sau vẫn thể hiện nhất quán là 1 trên thực tế là có xung đột pháp luật cạnh tranh ở các lĩnh vực cạnh tranh không lành mạnh, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh; 2 tuy nhiên, tôi kiến nghị Luật Cạnh tranh của chúng ta chỉ nên đề cập đến vấn đề xung đột pháp luật đối với lĩnh vực cạnh tranh không lành mạnh để làm cơ sở cho các toà án giải quyết các tranh chấp về bồi thường thiệt hại do các hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra. Quan điểm này đã được thể hiện rõ ràng trong hai bài viết của tôi ngày 13/6 và 19/6. Kiểm tra lại các lập luận trong các bài viết đó thì thấy hoàn toàn không có cơ sở nào để khẳng định là "Bạn Nguyễn Hữu Huyên đã thay đổi quan điểm và tán đồng với kết luận của tôi" - như bạn Đại đã hiểu. Vậy tôi xin nói lại một lần nữa để bạn Đại hiểu rõ hơn về vấn đề này. Xin trân trọng cảm ơn./. Nguyễn Hữu Huyên, huyent Cạnh tranh là một vấn đề quan trọng đối với các doanh nghiệp trên thị trường. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh không chỉ gây thiệt hại cho các doanh nghiệp mà còn thiệt hại cho môi trường kinh doanh tự do của một đất nước. Vì vậy, bài viết sẽ tìm hiểu về một hành vi cạnh tranh không lành mạnh thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Dưới góc độ pháp lý, thỏa thuận này là sự thống nhất ý chí từ hai chủ thể kinh doanh trở lên được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào, có hậu quả làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường. Thỏa thuận hạn chế này sẽ có một số đặc điểm sau đây Chủ thể của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh được pháp luật quy định phải là các chủ thể độc lập. Sự độc lập này phải về pháp lý tức là được pháp luật công nhận chủ thể này là một tổ chức, một pháp nhân độc lập và có quyền nghĩa vụ độc lập, tự chịu các trách nhiệm pháp lý và về cả việc chủ hoạt động nội bộ. Tức là chủ thể của hành vi này không phải là những người liên quan của nhau theo pháp luật doanh nghiệp; không cùng trong một tập đoàn kinh doanh, không cùng là thành viên của tổng công ty. Nói cách khác, các hoạt động nội bộ giữa các chi nhánh của công ty, giữa các công ty con của một tổng công ty, một tập đoàn kinh tế sẽ không được pháp luật cạnh tranh coi là thỏa thuận bởi về bản chất các chủ thể nói trên không có tính độc lập với nhau về hoạt động không tự chủ trong hoạt động. Thứ hai, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh phải có sự thống nhất về ý chí giữa các bên tham gia thỏa thuận Nghĩa là có sự sự thống nhất ý chí về việc cùng hành động gây hạn chế cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Các thỏa thuận này thường là kết quả của sự đàm phán, thương lượng giữa các bên tham gia có liên quan đến việc gây hạn chế cạnh tranh trên một thị trường liên quan. Các hành vi này có thể được biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau. Có thể là việc các bên gián tiếp đạt được một thỏa thuận thỏa thuận ngầm thông qua các nghị quyết, quyết định hay hành động chung của Hiệp hội mà các bên là thành viên; hoặc biểu hiện dưới dạng các cam kết tuân thủ hoặc cam kết đáp ứng yêu cầu do một hoặc một số bên đặt ra. Vì thế có nhiều trường hợp các doanh nghiệp khi bị phạt vi phạm thỏa thuận thì mới nhận ra thỏa thuận của mình là trái pháp luật. Thứ ba, về nội dung Các thỏa thuận hạn chế về cạnh tranh sẽ thường tập trung vào các yếu tố cơ bản của quan hệ thị trường mà các doanh nghiệp đang cạnh tranh nhau như giá, thị trường, trình độ kỹ thuật, công nghệ, điều kiện ký kết hợp đồng và nội dung của hợp đồng. Thực tế, các thỏa thuận đều được tồn tại dưới hình thức các thỏa thuận kinh doanh nên để xem xét phân định thì phải dựa vào nội dung của thỏa thuận trong thực tế có thể gây hạn chế cạnh tranh trên thị trường hay không. Thứ tư, hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Các thỏa thuận này sẽ dẫn đến làm giảm, sai lệch và cản trở cạnh tranh trên thị trường. Đây là đặc điểm chung của các hành vi hạn chế canh tranh. Pháp luật cạnh tranh với mục đích là bảo vệ, tạo môi trường canh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức phát triển hoạt động thương mại, chính vì lẽ đó, các thỏa thuận nhằm xóa bỏ cạnh tranh trên thị trường gây ảnh hưởng đến các chủ thể không tham gia thoả thuận, lẫn người trực tiếp sử dụng sản phẩm trên thị trường bị hạn chế canh tranh. Như vậy một thỏa thuận có các đặc điểm trên là một thỏa thuận và có thể bị pháp luật cạnh tranh cấm vì đã xâm phạm đến môi trường cạnh tranh lành mạnh và lợi ích của các chủ thể kinh doanh khác trên thị trường. Có nhiều chủ thể kinh doanh không nhận thức được hành vi của mình là trái với pháp luật cạnh tranh và dẫn đến tình trạng bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi của mình. Chính vì lẽ đó, các chủ thể kinh doanh cần lưu ý về vấn đề này trên thực tế. Câu hỏi thường gặp TRẢ LỜI Theo Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2005 quy định như sau 1. TỔ CHỨC, CÁ NHÂN có quyền đăng ký nhãn hiệu dùng cho hàng hoá do mình sản xuất hoặc dịch vụ do mình cung cấp. 2. Tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động thương mại hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm mà mình đưa ra thị trường nhưng do người khác sản xuất với điều kiện người sản xuất không sử dụng nhãn hiệu đó cho sản phẩm và không phản đối việc đăng ký đó. 3. Tổ chức tập thể được thành lập hợp pháp có quyền đăng ký nhãn hiệu tập thể để các thành viên của mình sử dụng theo quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể; đối với dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hóa, dịch vụ, tổ chức có quyền đăng ký là tổ chức tập thể của các tổ chức, cá nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh tại địa phương đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. 4. Tổ chức có chức năng kiểm soát, chứng nhận chất lượng, đặc tính, nguồn gốc hoặc tiêu chí khác liên quan đến hàng hóa, dịch vụ có quyền đăng ký nhãn hiệu chứng nhận với điều kiện không tiến hành sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó; đối với địa danh, dấu hiệu khác chỉ nguồn gốc địa lý đặc sản địa phương của Việt Nam thì việc đăng ký phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép. 5. Hai hoặc nhiều tổ chức, cá nhân có quyền cùng đăng ký một nhãn hiệu để trở thành đồng chủ sở hữu với những điều kiện sau đây a Việc sử dụng nhãn hiệu đó phải nhân danh tất cả các đồng chủ sở hữu hoặc sử dụng cho hàng hoá, dịch vụ mà tất cả các đồng chủ sở hữu đều tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh; b Việc sử dụng nhãn hiệu đó không gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng về nguồn gốc của hàng hoá, dịch vụ. 6. Người có quyền đăng ký quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 trên này, kể cả người đã nộp đơn đăng ký có quyền chuyển giao quyền đăng ký cho tổ chức, cá nhân khác dưới hình thức hợp đồng bằng văn bản, để thừa kế hoặc kế thừa theo quy định của pháp luật với điều kiện các tổ chức, cá nhân được chuyển giao phải đáp ứng các điều kiện đối với người có quyền đăng ký tương ứng. 7. Đối với nhãn hiệu được bảo hộ tại một nước là thành viên của điều ước quốc tế có quy định cấm người đại diện hoặc đại lý của chủ sở hữu nhãn hiệu đăng ký nhãn hiệu đó mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng là thành viên thì người đại diện hoặc đại lý đó không được phép đăng ký nhãn hiệu nếu không được sự đồng ý của chủ sở hữu nhãn hiệu, trừ trường hợp có lý do chính đáng. TRẢ LỜI Hiện nay Người nộp đơn đăng ký nhãn hiệu có thể tự làm hoặc Ủy quyền đăng ký qua Đại Diện Sở Hữu Công Nghiệp Đại diện sở hữu công nghiệp → Giống như Kiểu Công ty Luật A&S Có thể khái quát việc nộp đơn như sau 1. NỘP ĐƠN QUA ĐẠI DIỆN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Hồ sơ gồm - GIẤY ỦY QUYỀN CHO ĐẠI DIỆN - MẪU ĐƠN 10 MẪU 8X8 CM 2. TỰ NỘP ĐƠN CÁ NHÂN HOẶC CÔNG TY LÀ CHỦ ĐƠN Mẫu nhãn hiệu với kích thước lớn hơn 3×3 cm và nhỏ hơn 8 x8 cm; Danh mục hàng hóa dịch vụ cần đăng ký nhãn hiệu; Tờ khai đăng ký nhãn hiệu. Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể,nhãn hiệu chứng nhận Giấy phép kinh doanh nếu chủ đơn là Công ty CÁ NHÂN KHÔNG CẦN GIẤY ĐĂNG KÝ KINH DOANH NHÃN HIỆU TẬP THỂ 1. Quy chế sử dụng nhãn hiệu tập thể/nhãn hiệu chứng nhận; 2. Bản thuyết minh về tính chất,chất lượng đặc trưng hoặc đặc thù của sản phẩm mang nhãn hiệu nếu nhãn hiệu được đăng ký là nhãn hiệu tập thể dùng cho sản phẩm có tính chất đặc thù hoặc là nhãn hiệu chứng nhận chất lượng của sản phẩm hoặc là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý; 3. Bản đồ xác định lãnh thổ nếu nhãn hiệu đăng ký là nhãn hiệu chứng nhận nguồn gốc địa lý của sản phẩm. 4. Mẫu nhãn hiệu với kích thước lớn hơn 3×3 cm và nhỏ hơn 8 x8 cm; 5. Danh mục hàng hóa dịch vụ cần đăng ký nhãn hiệu; 6. Tờ khai đăng ký nhãn hiệu. Đối với đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể,nhãn hiệu chứng nhận Trả lời - Tra cứu thương hiệu độc quyền cơ bản, sơ bộ Trong dạng này, thời gian tra cứu thương hiệu độc quyền sơ bộ chỉ mất 03 đến 05 tiếng để tra cứu. Tuy nhiên, việc tra cứu này không đảm bảo được chính xác thương hiệu có sự trùng lặp, tương tự hay không vì dữ liệu do Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam cung cấp trên trang dữ liệu quốc gia đã được cập nhật trước thời điểm tra cứu 03 tháng, tức là tại thời điểm tra cứu thì các đơn mới nộp trong khoảng 03 tháng trở lại đây là chưa được cập nhật trên dữ liệu quốc gia nên không thể tra cứu chính xác 100%. Link tra cứu miễn phí - Tra cứu thương hiệu độc quyền chi tiết, nâng cao Trong dạng tra cứu này, độ chính xác đạt cao nhất, được tiến hành bởi các chuyên viên, chuyên gia có kinh nghiệm sẽ đảm bảo tỷ lệ đăng ký thương hiệu độc quyền cao nhất, các chuyên viên, chuyên gia sẽ thẩm định và kiểm tra sự trùng lặp, dễ gây nhầm lẫn để có cở sở điều chỉnh lại thương hiệu sao cho phù hợp nhất. LIÊN HỆ A&S LAW FIRM qua hotline +84 972 817 699 PHÍ TRA CỨU CHUYÊN SÂU CHỈ TỪ VNĐ / LẦN TRA CỨU Trả lời CÓ HAI CÁCH NỘP ĐƠN ĐĂNG KÝ NHÃN HIỆU 1. NGƯỜI NỘP ĐƠN TỰ NỘP Bạn có thể nộp đơn trực tiếp hoặc qua đường bưu điện hoặc thông qua đơn vị đại diện sở hữu trí tuệ nộp đơn đăng ký thương hiệu độc quyền tại một trong ba địa chỉ sau - Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại số 384-386, đường Nguyễn Trãi, phường Thanh Xuân Trung, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. - Văn phòng đại diện Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng Tầng 3, số 135 đường Minh Mạng, phường Khuê Mỹ, quận Ngũ Hành Sơn. - Văn phòng đại diện Cục Sở Hữu trí tuệ Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh số 17 - 19 Tôn Thất Tùng, Tầng 7, tòa nhà Hà Phan, phường Phạm Ngũ Lão, quận 1. Lưu ý Hai văn phòng đại diện chỉ là đơn vị tiếp nhận đơn đăng ký, còn cơ quan có thẩm quyền xem xét, thẩm định hồ sơ và cấp văn bằng bảo hộ thương hiệu độc quyền chỉ có Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam ở Hà Nội. 2. NỘP ĐƠN THÔNG QUA ĐẠI DIỆN SHCN A&S LAW FIRM LIÊN HỆ A&S LAW FIRM qua hotline +84 972 817 699 PHÍ TRA CỨU CHUYÊN SÂU CHỈ TỪ VNĐ / LẦN TRA CỨU → Trả lời Theo quy định của pháp luật hiện hành, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ xử lý và giải quyết hồ sơ đăng ký thương hiệu độc quyền với thời gian của từng giai đoạn như sau - Giai đoạn tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hình thức đơn đăng ký thương hiệu độc quyền dao động trong khoảng 01 tháng đến 03 tháng; - Giai đoạn công bố đơn hợp lệ là 02 tháng kể từ ngày đơn được chấp nhận là đơn hợp lệ; - Giai đoạn đăng công bố lên Công báo A từ 4-6 tháng từ ngày chấp nhận hình thức đơn - Giai đoạn thẩm định nội dung đơn đăng ký thương hiệu độc quyền dao động trong khoảng từ 14 tháng đến 16 tháng; Như vậy, tổng thời gian đăng ký thương hiệu độc quyền từ thời điểm nộp hồ sơ đến khi được cấp văn bằng bảo hộ dao động trong khoảng 24 tháng đến 26 tháng theo quy định của pháp luật. Trả lời THỜI HẠN CÓ HIỆU LỰC CỦA VĂN BẰNG NHÃN HIỆU TẠI VIỆT NAM LÀ 10 NĂM VÀ ĐƯỢC GIA HẠN KHÔNG GIỚI HẠN SỐ LẦN CĂN CỨ Khoản 6 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định về hiệu lực của văn bằng bảo hộ như sau ” Giấy chứng nhận nhãn hiệu có hiệu lực từ ngày cấp đến hết mười năm kể từ ngày nộp đơn, có thể gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần mười năm”. Thời hạn bảo hộ của nhãn hiệu là 10 năm, tuy nhiên chủ sở hữu nhãn hiệu có thể xin gia hạn nhiều lần liên tiếp, mỗi lần 10 năm và có thể được bảo hộ mãi mãi nếu được gia hạn đúng hạn. Trong vòng 06 tháng trước ngày Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu hết hiệu lực, chủ sỡ hữu nhãn hiệu phải nộp đơn yêu cầu gia hạn và lệ phí theo quy định cho Cục Sở hữu trí tuệ. Trả lời NHÃN HIỆU CÓ THỂ CHUYỂN NHƯỢNG ĐƯỢC HỒ SƠ CHUYỂN NHƯỢNG GỒM Chuyển nhượng nhãn hiệu cần các giấy tờ Bản gốc của giấy chứng nhận đã đăng ký nhãn hiệu or văn bản bảo hộ; Kèm thêm 2 bản hợp đồng chuyển nhượng đồng thời phải có chữ kỹ từng trang. Mộc đỏ của con dấu " Nếu có "; Thêm vào là giấy ủy quyền từ bên chịu trách nhiệm ký hợp đồng chuyển nhượng / chuyển giao nhãn hiệu theo quy định pháp luật và hợp đồng 2 bên thỏa thuận. Thời gian hoàn tất việc đăng ký Hợp đồng chuyển nhượng/chuyển giao nhãn hiệu là 06 tháng kể từ ngày nộp đơn. Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh tiếng Anh Anti-competitive agreements là sự thống nhất ý chí của từ hai chủ thể kinh doanh trở lên được thể hiện dưới bất kì hình thức nào, có hậu quả làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường. Hình minh họa Nguồn thuận hạn chế cạnh tranh Anti-competitive agreementsKhái niệmThỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong tiếng Anh là Anti-competitive góc độ pháp lí có thể hiểu "Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất ý chí của từ hai chủ thể kinh doanh trở lên được thể hiện dưới bất kì hình thức nào, có hậu quả làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường". trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Cạnh tranh, NXB CAND, 2011, ngữ liên quanLuật Cạnh tranh 2004 của Việt nam không đưa ra khái niệm thế nào là thỏa thuận cạnh hạn chế cạnh tranh, mà chỉ coi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là một trong các dạng hành vi hạn chế cạnh tranh điển hình. Tại khoản 3, Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004 qui định "hành vi hạn chế cạnh tranh là hành vi làm giảm sai lệch và cản trở cạnh tranh trên thị trường".Dấu hiệu nhận diện hành vi thỏa thuận cạnh tranh trên thị trường- Chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là các doanh nghiệp hoạt động độc lập- Các doanh nghiệp tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh đã thống nhất cùng nhau thực hiện những hành vi phản cạnh tranh, bóp méo thị trường- Hậu quả của thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là làm giảm sức ép cạnh tranh, làm sai lệch hoặc cản trở cạnh tranh trên thị loại thỏa thuận hạn chế cạnh tranh Dựa vào vị trí của các chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong chuỗi quá trình sản xuất kinh đoanh , có thể phân thành thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc và thỏa thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều thuận theo chiều ngang horizontal agreements/cartel là thỏa thuận giữa các chủ thể kinh doanh trong cùng ngành hàng và cùng khâu của quá trình kinh doanh ví dụ thỏa thuận giữa các nhà sản xuất, những người bán buôn với nhau, giữa những người bán lẻ với nhauThỏa thuận theo chiều dọc vertical agreement/vertical restraints là thỏa thuận hợp tác giữa hai hay nhiều doanh nghiệp hoạt động ở những khâu khác nhau trong quá trình sản xuất, hoặc phân phối, sản lượng phân phối, khách hàng giao dịch, điều kiện phân phối...Nhìn chung, các thỏa thuận theo chiều dọc phần lớn ít gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường cạnh tranh so với thỏa thuận theo chiều ngang, cũng có thể phân loại thành thỏa thuận ngang nghiêm trọng hardcore cartel và thỏa thuận theo chiều ngang ít nghiêm trọng non - hardcore cartel.Theo khuyến nghị về các hoạt động hêu quả chống hardcore cartel của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế OECD 1998, "hardcore cartel là một thỏa thuận hay thống nhất ý chí cùng hành động giữa các đối thủ cạnh tranh nhằm ấn định giá, gian lận thầu thông đồng đấu thầu, hạn chế sản lượng hoặc hạn ngạch, phân chia thị trường theo nhóm khách hàng, nguồn cung ứng, khu vực địa lí hay các kênh thương mại".Ngược lại có những thỏa thuận ngang mang mại lợi ích kinh tế không chỉ cho bản thân doanh nghiệp, mà còn làm lợi cho cả người tiêu dùng. Những thỏa thuận ngang như thế có thể gọi là thỏa thuận hợp tác, hay thỏa thuận ngang ít nghiêm trọng. Ví dụ như những thỏa thuận nghiên cứu phát triển R&D hay thỏa thuận định chuẩn...Các hình thức thỏa thuận hạn chế cạnh tranh ở Việt NamTheo Điều 8, Luật Cạnh tranh 2004, các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm- Thỏa thuận ấn định giá hàng hóa, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp- Thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung các hàng hóa, cung ứng dịch vụ- Thỏa thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hóa, dịch vụ- Thỏa thuận hạn chế phát triển kĩ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư- Thỏa thuận áp đặt cho doanh nghiệp khác điều kiện kí kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng- Thỏa thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh- Thỏa thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thỏa thuận- Thông đồng để một hoặc các bên của thỏa thuận thắng thầu trong việc cung cấp hàng hóa, cung ứng dịch vụ.Tài liệu tham khảo, Luật kinh tế chuyên khảo, NXB Lao động

ví dụ về thỏa thuận hạn chế cạnh tranh