xã hội tri thức

Xã hội tri thức ngày càng được đồng hóa với nền kinh tế dịch vụ dựa vào tri thức; và 4. Xã hội phải dựa vào "những tổ chức có năng lực (tự) học hỏi" với hoạt động trí óc và truyền thông gia tốc và những con người có khả năng chuyên môn cao. Nói ngắn, xã Trí thức là người có kiến thức sâu xa về một hay nhiều lĩnh vực hơn sự hiểu biết của mặt bằng chung của xã hội vào từng thời kỳ.. Sự xuất hiện của từ trí thức khi một văn bản kháng nghị công bố năm 1906 - do nhà văn Zola ký tên đầu - lại được thủ tướng Pháp Clemenceau (tiến sĩ, nhà báo) gọi là Tri thức Việt - Toàn cầu; Cập nhật tin tức xã hội nhanh chính xác nhất trên báo điện tử Kiến Thức, đọc báo xã hội online tin nhanh 24h. CƠ QUAN CHỦ QUẢN: LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT VIỆT NAM. Giấy phép: số 536/GP-BTTTT, cấp ngày 19/11/2020 Sự chuyển biến tới nền kinh tế tri thức và xã hội tri thức. 1. Tri thức trong quá trình phát triển kinh tế xã hội: Sự phát triển của tri thức gắn lền với lịch sử phát triển của loài người. Con người tạo ra tri thức và sử dụng tri thức để sống, để phát triển và Bà Hương nhận chức vụ Phó giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Đắk Nông "Thực ra, nguyện vọng này không phải ngày hôm qua (ngày 17/10) tôi mới nói. mới chỉ nói chứ chưa có đơn chính thức. "Vướng gì thì giải quyết, xử lý tiếp, thấu tình đạt lý lirik lagu titanic my heart will go on terjemahan. Nội dung Text Thuyết trình Tâm lý học xã hội Tri giác xã hội Tâm lý học xã hội Psychologie sociale Tri giác xã hội Giáo viên hướng dẫn TS. Trần Thu Hương Nhóm làm bài tập Nhóm 10 Các thành viên  Mai Linh nhóm trưởng  Nguyễn Công Huân  Trịnh Văn Tịnh  Nguyễn Duy Hiệp  Nguyễn Trung Thành Tri giác là gì?  Tri giác là một quá trình tâm lí phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng đang trực tiếp tác động vào các giác quan của con người.  Khác với cảm giác, tri giác là một mức độ mới của nhận thức cảm tính, nó không phải là tổng thể các thuộc tính riêng lẻ, mà là một sự phản ánh sự vật, hiện tượng nói chung trong tổng hoà các thuộc tính của nó. Những đặc điểm của tri giác  Nhận thức cao hơn cảm giác  Một quá trình tâm lý giống cảm giác.  Phản ánh trực tiếp nhưng trọn vẹn sự vật dựa trên cơ sở hiểu biết kinh nghiệm.  Phản ánh cấu trúc nhất định của sự vật qua cảm giác trừu tượng.  Quá trình tích cực gắn với hoạt động của con người. Những quy luật chính của tri giác  Tính đối tượng.  Tính lựa chọn  Tính ý nghĩa tri giác có ý thức bằng cách gọi tên sự vật.  Tính ổn định.  Tính tổng giác.  Ảo giác Các loại tri giác  Tri giác không gian Hình dạng, độ lớn, vị trí chiều sâu, độ xa, phương hướng….  Tri giác thời gian Độ dài, tốc độ, liên tục….  Tri giác vận động Biến đổi sự vật trong không gian.  Tri giác con người Sự phản ánh tâm lý, từ cảm giác đến tư duy. Tri giác xã hội là gì?  Là sự cảm nhận, hiểu biết về các đối tượng xã hội như bản thân, người khác, nhóm xã hội, cộng đồng.  Sự nhận biết này phụ thuộc vào đối tượng tri giác, kinh nghiệm, mục đích nguyện vọng của chủ thể tri giác hay hoàn cảnh tri giác.  Đối tượng tri giác là một thực thể xã hội tích cực mang sắc thái tình cảm và thái độ riêng của mình. Tóm lại  Là thông qua các biểu hiện hành vi bên ngoài kết hợp với các đặc tính bên trong của sự vật để hiểu được mục đích hay phương hướng hành động của họ.  Là quá trình nhận thức được đối tượng giao tiếp bằng con đường cảm tính chủ quan, theo kinh nghiệm. Những cơ chế chi phối  Ấn tượng ban đầu.  Quy luật quy gán xã hội.  Định kiến xã hội. Ấn tượng ban đầu  Sau lần tiếp xúc ban đầu ta sẽ có ấn tượng nhất định về đối tượng của mình  Ấn tượng ban đầu hình thành ngay cả khi không chịu sự chi phối của lý trí.  Là hình ảnh tổng thể trên cơ sở nhìn nhận một cách toàn diện diện mạo, lời nói, cử chỉ, tác phong, ánh mắt. nụ cười...... Thí nghiệm của Ash Solomon-1946  Thông minh  Thông minh  Khéo léo  Khéo léo  Cần cù  Cần cù  Nồng nhiệt  Lạnh lùng  Kiên quyết  Kiên quyết  Thực tế  Thực tế  Thận trọng  Thận trọng - - Người tin tưởng vào những điều Một kẻ đua đòi thấy mình đúng đắn, muốn mọi người thành công, thông minh hiểu quan điểm của mình, chân khác người. Một kẻ tính thành khi tranh luận và mong ý toán, lãnh cảm. kiến đó được thừa nhận Cơ sở hình thành ấn tượng ban đầu  1. Theo các đặc điểm trung tâm.  2. Lý thuyết sơ đồ nhân cách ngầm ẩn.  3. Các hiệu ứng chi phối ấn tượng về người khác. Các đặc điểm trung tâm  Những đặc tính nhân cách nào đó có ý nghĩa nhất quyết định ấn tượng của ta về người khác.  Trong đời sống hàng ngày, khi nhận định lần đầu về người khác ta có thói quen chỉ căn cứ vào một vài nét tính cách nổi bật của người đó thôi. Lý thuyết sơ đồ nhân cách ngầm ẩn  Khi nhìn nhận người khác mỗi người chúng ta đều mang trong đầu sơ đồ liên hệ tính cách người đó.  Mối liên hệ này khi gặp người khác sẽ được hoạt hoá.  Phụ thuộc vào kinh nghiệm sống của cá nhân. Các hiệu ứng chi phối ấn tượng về người khác  Mô hình chỉnh lý thông tin Anderson Đtb = điểm đặc tính tốt – điểm đặc tính xấu / tính cách.  Tâm thế của chủ thể là sự định hướng sẵn của chủ thể về đối tượng, sự vật, sự việc, sự kiện. Tâm thế sẵn có với ai đó thương chi phối ấn tượng của chúng ta về người đó.  Hiệu ứng ban đầu Những thông tin đầu tiên đóng vai trò quan trọng hơn các thông tin tiếp theo. Hiệu ứng ban đầu  Thông minh  Ghen tỵ  Chăm chỉ  Ương ngạnh  Bốc đồng  Hay phê phán  Hay phê phán  Bốc đồng  Ương ngạnh  Chăm chỉ  Ghen tỵ  Thông minh - - Một người có năng lực và Thiên về ác cảm bi bị những biện hộ cho tính ương đặc tính tiêu cực trước ngạnh của mình vì người che lấp đi. đó biết mình làm gì và tin rằng điều đó đúng. Quy luật quy gán xã hội  Là cách mà con người thường dùng để nhận định người khác.  Quy gán thường mang tính chủ quan nên khó tránh khỏi sai sót.  Để tránh những sai sót đó cần nắm vững nguyên tắc quy gán. Các nguyên tắc quy gán  Tâm lý ngây thơ Chúng ta luôn có tâm lý muốn kiểm soát được những thay đổi, biến động của môi trường xung quanh.  Suy diễn tương ứng Con người thường suy diễn tương ứng với những gì họ thấy.  Suy diễn đồng biến Là suy diễn cho nguyên nhân kết quả đi kèm với nhau, nhân nào - quả ấy. Định kiến xã hội  Thái độ thường mang hàm ý xấu về đối tượng, sự vật, hiện tượng.  Hình thành trong quá trình xã hội hoá do sự giáo dục của từng gia đình hay do đặc thù của mỗi dân tộc.  Thường ngăn cản chúng ta hiểu biết chính xác về đối tượng. 1. Hiểu rõ tri thức là gì ? "Tri thức là gì" là câu hỏi nhận được nhiều sự quan tâm của mọi người, nhưng không có một lời giải thích hay định nghĩa chính xác về khái niệm này. Ngay từ khi còn nhỏ, cất tiếng khóc chào đời đến khi bắt đầu tiếp xúc với những kiến thức đơn giản, thì các bạn đã hình thành con người có tri thức, từ việc tiếp thu kiến thức đến áp dụng nó một cách hoàn hảo. Từ thời xa xưa, tri thức là người nuôi dưỡng, bảo vệ, truyền bá những giá trị truyền thống cũng như nét đẹp văn hóa mà cha ông ta để lại, sau lớn dần nó hình thành tri thức chuyên môn, khả năng sẵn có của chính mình. Có rất nhiều định nghĩ khác nhau về tri thức, ở các lĩnh vực hay hoàn cảnh khác nhau, người ta đánh giá về khái niệm tri thức là gì? Tri thức là tất cả những dữ liệu, thông tin, kỹ năng,... có được qua trải nghiệm thực tế hoặc học tập. Tri thức có thể chỉ về sự hiểu biết về một đối tượng hay sự vật về lý thuyết và thực hành. Có 2 dạng tồn tại của tri thức là tri thức ẩn và tri thức hiện. Tri thức hiện là những thứ được thể hiện qua văn bản, âm thanh, hình ảnh,... được truyền đạt dễ dàng qua hình thức giáo dục. Tri thức ẩn là những tri thức được thu lại nhờ sự trải nghiệm thực tế rất khó truyền đạt, chuyển giao mà phải tự trải nghiệm và tập luyện. Người tri thức có thể hiểu là người lao động trí óc, là người có học, am hiểu nhiều kiến thức và cũng có thể là người khám phá và truyền bá tri thức ở các chuyên môn nhất định, sự tiếp nối đó là trong quá trình rèn luyện của con người, bạn phải là người tích cực tham gia phản biện xã hội, đưa ra ý kiến quan điểm cá nhân, tri thức là lương tâm của xã hội. Một xã hội giàu đẹp văn minh đòi hỏi người có tri thức cao, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, tri thức càng ngày có sự tiến bộ cao, trau dồi để trở thành con người hiện đại, ai có tri thức nhiều người đó có sức mạnh, quyền lợi cao. Phụ huynh nhận thấy được những khó khăn của con em mình trong việc nâng cao tri thức mà đưa ra những phương pháp học tập tốt nhất, lựa chọn gia sư mang lại tri thức cho học sinh là phương pháp hiệu quả nhất phụ huynh có thể làm. 2. Vai trò của tri thức trong xã hội Tri thức có thể hiểu là sản phẩm đặc thù của xã hội, sự ra đời của tri thức thường gắn liền với sự hình thành của xã hội loài người. Do đó, không thể tách trí thức ra khỏi xã hội để định nghĩa xem tri thức là gì cũng như mong muốn hiểu sâu hơn về tri thức, đó là việc làm không tốt, tách tri thức ra khỏi xã hội giống như việc tách những con cá ra khỏi dòng nước đề tìm sự thích nghi hay hoạt động của cá. Vai trò của tri thức trong xã hội là rất cần thiết và quan trọng. + Khi con người có tri thức, có hiểu biết, am hiểu sâu rộng tới mọi vấn đề hay lĩnh vực xã hội, thì con người ta dễ dàng thực hiện được những mục tiêu, ham muốn, ước nguyện của bản thân, chỉ có tri thức được lấy bằng chính mồ hôi công sức thì mới mang lại được hiệu quả. Và hiển nhiên, một xã hội với những con người thành đạt giúp xã hội phát triển không ngừng về tri thức. Đơn giản rằng khi xã hội được hợp thành bởi cá nhân, nhưng sự kết hợp mang lại hiệu quả thì cần quá trình rèn luyện không ngừng đối với thế hệ trẻ, việc học tập như nào, trau dồi bản thân ra sao để tri thức mình mang lại cho xã hội có sự đóng góp hiệu quả nhất. + Khi nhu cầu xã hội ngày càng nâng cao, việc đáp ứng nhu cầu đòi hỏi mỗi công dân cần phải có, đặc biệt nhu cầu trong giáo dục và trách nhiệm của học sinh sinh viên là quan trọng. Con người có tri thức, kiến thức và nhận thức tốt, làm chủ tri thức bản thân là chủ trong cách sống của mình, biết bản thân mình làm gì, biết được nhu cầu xã hội đang đòi hỏi gì ở chính các bạn trẻ, mà không ngừng học hỏi. Vai trò của tri thức trong việc phục vụ những yêu cầu của xã hội, cũng góp phần trong việc thể hiện khả năng bản thân mình ở xã hội không ngừng phát triển lớn mạnh. + Khi trở thành con người có tri thức thì sống theo chuẩn mực đạo đức tốt, giữ gìn cũng như phát huy được những giá trị văn hóa tốt đẹp ông cha ta để lại. Một câu hỏi đề ra, nếu bản thân mỗi công dân không có am hiểu về tri thức trong sự nhìn nhận thì xã hội sẽ duy trì như thế nào. Tri thức hình thành được là nhờ sự tiếp thu kiến thức cũng như học hỏi được những kỹ năng, một xã hội sẽ lạc hậu, không có sự phát triển là xã hội còn xuất hiện những con người không có trí thức, một thành phần thừa trong xã hội. + Vai trò cuối cùng mà tri thức mang lại cho xã hội là sự hội nhập quốc tế, giao lưu học hỏi kiến thức hay những truyền thống tốt đẹp của các quốc gia khác là rất cần thiết, hay là tham gia các cuộc thi quốc tế mà các vấn đề cần quan tâm ở đây là ngôn ngữ tiếng anh phải thực sự tốt và chuyên môn cao. Xã hội sẽ được sánh ngang với các cường quốc năm châu, sự sáng tạo cũng như những phát minh hay, mới lạ thì công dân có tri thức là không thể thiếu, tri thức lúc này như là công cụ giúp giải quyết mọi vấn đề khó khăn không chỉ cho bản thân, gia đình mà còn cho cả xã hội vì lợi ích của đất nước. Nhận thức rất rõ việc học tập, cũng như biết được những giá trị tri thức thì mỗi học sinh sinh viên cần phải phát huy bản thân học hỏi trong nhiều lĩnh vực, phụ huynh cũng có giải pháp tốt nhất cho các bạn trẻ trong việc rèn luyện các kỹ năng mềm hay kiến thức chuyên sâu môn học, đó cũng là chặng đường giúp các bạn trẻ chuẩn bị tốt nhất để có hành trang tốt trên con đường đi tìm thành công và hỗ trợ học sinh và phụ huynh trong việc học tập của con em mình rất cần đến một gia sư chất lượng, hiệu quả. 3. Tiêu chí để trở thành con người tri thức Để trở thành công dân có tri thức tốt không phải ngày một ngày hai, mà cần một quá trình dài, cần sự quyết tâm cao, có được tri thức cho bản thân là một lợi thế tốt để mọi người có nhiều cơ hội trong cuộc sống tốt đẹp, lợi thế đi kèm có kết quả, phải biết vận dựng lợi thế đó như thế nào là đúng là chính xác thì khó khăn đối với thế hệ trẻ cũng như cha mẹ càng nâng cao. Tiêu chí để trở thành con người tri thức là quan trọng, các bạn nhìn vào đó để rèn luyện bản thân mình hơn và phụ huynh nhìn vào tiêu chí đó để đánh giá con em mình khi có những suy nghĩ trưởng thành và có sự tiến bộ cao. + Người có tri thức trước tiên là người biết được xã hội cần gì, bản thân hoàn cảnh của mình đáp ứng được bao nhiêu, sự nhìn nhận vấn đề thực tế giúp các bạn hoàn thành công việc một cách nhanh hơn, con số, số liệu thực tế là những gì người ta nhìn vào đó biết mình nên thay đổi gì, bổ sung gì để kết quả tốt nhất. + Khi biết được bản thân muốn gì thì mọi người cần đặt ra những mục tiêu cụ thể, đặt ra rồi thì phải bắt tay vào hành động, thời gian không đợi chờ ai, khi bạn nghỉ ngơi là bạn mất một khoảng thời gian dài lãng phí của mình trong khi mọi người đang học tập hay làm việc miệt mà, tri thức con người là rộng lớn, không ai quan tâm bạn lĩnh hội nó như thế nào, họ chỉ quan tâm kết quả mọi người mang lại ra sao. Do đó, hành động và đứng dậy thực hiện mục tiêu là cần thiết, dám hành động, dám theo đam mê, theo sở thích là lúc các bạn đứng lại đấu tranh cho quyền lợi bản thân, chứng tỏ tri thức của bản thân. + Tiêu chí về sức khỏe, nghị lực cũng quan trọng trong việc phát triển tri thức của con người, sức khỏe tốt mọi người có thể làm việc và cống hiến công sức vào công việc gì hay làm gì mà mình muốn, đặc biệt góp phần trong việc học tập là rất quan trọng. Nghị lực, lòng quyết tâm, sự kiên nhẫn, chịu khó là điều cần có đối với mỗi người công dân, đặc biệt đối với các bạn trẻ, khi học tập là nghĩa vụ mà các bạn phải hoàn thành và thực hiện. Rèn luyện cho bản thân những kỹ năng thấu hiểu, cảm thông, cảm nhận những vấn đề cũng là nền tảng phát triển về tri thức cho các bạn trẻ. + Để con người có tri thức tốt thì việc điều chính về hành động của bản thân là cần thiết trong văn hóa ứng xử, giao tiếp cũng như truyền đạt kiến thức cần có ở những con người có tri thức chuyên sâu. Điều chỉnh hành động ở đây được hiểu là bạn cần phải hoàn thiện được việc làm sai của bản thân một cách chủ động, tự giác. Không ai là hoàn hảo về mọi thứ, và bạn không có trách nhiệm với bản thân khi bắt buộc các bạn làm những điều vượt khỏi khả năng, vượt khỏi sự kiểm soát, cuộc sống là sự ganh đua, người kém cỏi phải chấp nhận tụt lùi phía sau, thay đổi bản thân là lúc mở ra cho mình con đường mới tươi sáng hơn. Có bao giờ các bạn tự hỏi và tự trả lời rằng tại sao có người giàu, người nghèo, người hạnh phúc vui vẻ lại có người hay than vãn, người có công việc ổn định, người lại ngồi chơi tìm việc không. Khi các bạn tự ý thức được câu trả lời trong việc tự hỏi bản thân thì các bạn đang dần trau dồi cho bản thân về tri thức cuộc sống. Cần có sự nhìn nhận sâu rộng trong các lĩnh vực của đời sống để phát triển bản thân hơn. 4. Cùng rèn luyện tri thức hiệu quả Tri thức được thể hiện qua nhiều lĩnh vực đời sống, trong kiến thức học tập, về kỹ năng mềm hay tri thức từ những hành động thực tế xung quanh chúng ta. Và đặc biệt, đối với thế hệ trẻ vẫn đang trong quá trình học tập thì tri thức trong việc tiếp thu kiến thức sách vở là quan trọng. Việc học tập trên trường lớp hay tự học ở nhà chưa đáp ứng đầy đủ điều kiện học tập của các bạn và lựa chọn gia sư tại nhà để củng cố kiến thức là quan trọng và nơi giúp phụ huynh có sự lựa chọn tốt nhất về tìm gia sư chất lượng, phù hợp với con em mình, nơi lòng tin tưởng luôn được đề cao. với nhiều tính năng hay hấp dẫn như giao diện trang web đẹp mắt, dễ tìm kiếm, thao tác sử dụng nhanh gọn và hiệu quả, dịch vụ tìm gia sư và tìm lớp dạy cho gia sư miễn phí. Và các bạn trẻ có thể chọn trong việc tiếp thu tri thức về các kỹ năng hay kinh nghiệm bản thân qua công việc dạy gia sư, không chỉ củng cố lại kiến thức cho bản thân trong việc truyền đạt kiến thức cho người khác mà nhận thức được ý thức của bản thân trong sự va chạm mới đối với cuộc sống xã hội, khi không còn được sống trong sự bao bọc của cha mẹ, khi trang bị cho bản thân đầy đủ tri thức rồi thì việc tự chủ trong hành động, trong suy nghĩ một cách đúng đắn là cao, tự chủ trong tri thức cũng là tự chủ và có trách nhiệm với tương lai sau này của chính các bạn. >> Tham khảo thêm Những bước để tìm thấy lửa học tập và cách học giỏi Những cuốn sách hay nên đọc mà bạn nhất định phải biết Tri thức đã có từ lâu trong lịch sử, có thể nói từ khi con người bắt đầu có tư duy thì lúc đó có tri thức. Trải qua một thời gian dài phát triển của lịch sử, cho đến những thập kỷ gần đây tri thức và vai trò của nó đối với sự phát triển kinh tế-xã hội mới được đề cặp nhiều. Vậy tri thức là gì?1. Khái niệm về tri rất nhiều cách định nghĩa về tri thức nhưng có thể hiểu “Tri thức là sự hiểu biết, sáng tạo và những khả năng, kỹ năng để ứng dụng nóhiểu biết sáng tạo vào việc tạo ra cái mới nhằm mục đích phát triển kinh tế -xã hội. Tri thức bao gồm tất cả những thông tin, số liệu, bản vẽ, tưởng tượngsáng tạo, khả năng, kỹ năng quan niệm về giá trị và những sản phẩm mang tính tượng trưng xã hội khác. Tri thức có vai trò rất lớn đối với đời sống –xã tế thế giới đang bước vào một thời đại mới, một trình độ mới. Đó là trình độ mà “nhân tố quan trọng nhất là việc chiếm hữu, phân phối nguồn trí lực và việc sáng tạo, phân phối và sử dụng tri thức trong các ngành kĩ thuật cao”. Tiêu chí chủ yếu của nó là lấy tri thức, trí óc làm yếu tố then chốt để phát triển kinh tế và tồn tại trực tiếp giống như các yếu tố sức lao động và tài nguyên. Đó là thời đại mà “Tri thức đã trở thành động lực chủ yếu của sự phát triển xã hội”, “Tri thức là tài nguyên là tư bản”, Tri thức là tâm điểm của cạnh tranh và là nguồn lực dẫn dắt cho sự tăng trưởng dài hạn dẫn tới những thay đổi lớn trong cách tổ chức sản xuất, cấu trúc thị trường, lựa chọn nghề nghiệp…2. Vai trò của tri thức trong đời sống-xã hộiTri thức đã và đang ngày càng trở lên quan trọng đối với đời sống xã hội. Nó tác động trực tiếp đến các lĩnh vực của xã hội kinh tế, chính trị, văn hóa giáo dục… Vai trò của tri thức đối với Kinh tế – Kinh tế tri thứcNền kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó quá trình thu nhận truyền bá, sử dụng, khai thác, sáng tạo tri thức trở thành thành phần chủ đạo trong quá trình tạo ra của cải. Kinh tế tri thức có nhiều đặc điểm cơ bản khác biệt so với các nền kinh tế trước đó– Tri thức khoa học-công nghệ cùng với lao động kỹ năng cao là cơ sỏ chủ yếu và phát triển rất mạnh– Nguồn vốn quan trọng nhất, quý nhất là tri thức, nguồn vốn trí tuệ.– Sáng tạo và đổi mới thướng xuyên là động lực chủ yếu nhất thúc đảy sụ phát triển.– Nền kinh tế mang tính học tập.– Nền kinh tế lấy thị trường toàn cầu là môi trường hoạt động chính.– Nền kinh tế phát triển bền vững do được nuôi dưỡng bằng nguồn năng lượng vô tận và năng động là tri tiễn hai thập niên qua đã khẳng định, dưới tác động của cách mạng khoa học – công nghệ và toàn cầu hóa, kinh tế tri thức đang hình thành ở nhiều nước phát triển và sẽ trở thành một xu thế quốc tế lớn trong một, hai thập niên xuất hiện của các hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên tri thức. Nền kinh tế tri thức là nền kinh tế lấy sản xuất và kinh doanh tri thức làm nội dung chủ yếu. Tương lai của bất cứ doanh nghiệp nào cũng không chỉ phụ thuộc vào việc sử dụng tiền bạc, nguyên vật liệu, nguồn nhân lực và máy móc thiết bị…mà còn phụ thuộc vào việc xử lý và sử dụng những thông tin nội bộ và thông tin từ môi trường kinh doanh. Cách tốt nhất để tăng năng suất là tìm hiểu kiến thức chuyên môn mà hãng có được, sử dụng vì mục đích thương mại và những kiến thức này cần được phát triển không trị của những công ty công nghệ cao như các công ty sản xuất phần mềm và các công ty công nghệ sinh học không chỉ nằm trong những tài sản vật chất hữu hình, mà còn nằm trong những tài sản vô hình, như tri thức và các bằng sáng chế. Để trở thành một công ty được dẫn dắt bởi tri thức, các công ty phải biết nhận ra những thay đổi của tỉ trọng vốn trí tuệ trong tổng giá trị kinh doanh. Vốn trí tuệ của công ty, tri thức, bí quyết và phương pháp đội ngũ nhân viên và công nhân cũng như khả năng của công ty để liên tục hoàn thiện phương pháp sản xuất là một nguồn lợi thế cạnh tranh. Hiện có các bằng chứng đáng lưu ý chỉ ra phần giá trị vô hình của các công ty công nghệ cao và dịch vụ đã vượt xa phần giá trị hữu hình của các tài sản vật thể của các công ty đó, như các toà nhà hay thiết bị. Ví dụ như các tài sản vật thể của công ty Microsoft chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng giá trị được vốn hóa trên thị trường của công ty này. Phần lớn là vốn trí tuệ. Sau hai mươi năm thành lập, số nhân viên công ty tăng 6 nghìn lần, thu nhập tăng 370 nghìn lần, 1/10 số nhân viên trở thành triệu phú. Nguồn vốn con người là một thành tố giá trị cơ bản trong một công ty dựa vào tri kinh tế tri thức sẽ ngày càng làm xuất hiện nhiều sản phẩm thông minh. Đó là những sản phẩm có khả năng gạn lọc và giải thích các thông tin để người sử dụng có thể hành động một cách hiệu quả hơn. Ngay cả một chiếc bánh kẹp thịt cũng có thể trở thành một sản phẩm mới dựa trên tri thức bằng cách làm cho khách hàng biết cách sử dụng những thông tin về dinh dưỡng. Số lượng ka-lo và chất béo được in lên hóa đơn hoặc thậm chí trình bày thông tin đó trước khi khách đặt hàng. Thậm chí có những sản phẩm thông minh vừa có thể truyền đạt thông tin về sản phẩm vừa khuyên khách hàng nên làm gì từ tình hình vừa được thông tri thức –vai trò của nó trong kinh tế tri thứcVốn tri thức là tri thức được dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục đích sinh lợităng thêm giá trị.Vốn tri thức là một yếu tố nổi bật nhất trong hàm sản xuất. Trong văn minh nông nghiệp thì sức lao động, đất đai và vốn là những yếu tố của sản xuất công nghiệp, vốn, đất đai và nhất là sức lao động trở thành hàng hóa với tư cách là những yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế-xã hội, góp phần chuyển xã hội phong kiến thành xã hội tư bản trong lịch sử. Còn trong kinh tế tri thức, yếu tố của sự phát triển nền kinh tế-xã hội không chỉ bao gồm vốn tiền tệ, đất đai và dựa trên lao động giản đơn mà chủ yếu dựa trên lao động trí tuệ gắn với tri thức. Như vốn tri thức trở thành yếu tố thứ nhất trong hàm sản xuất thay vì yếu tố sức lao động vốn tiền tệ và đất tri thức thực sự trở thành nguồn gốc động lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Nước Mỹ nói riêng và các nước thuộc tổ chức OECD nói chung nhiều năm qua tăng trưởng ổn định với tốc độ cao là nhờ có sự phát triển của các ngành kinh tế dựa trên tri thức như các ngành công nghệ thông tin, viễn thông, vũ trụ, đầu tư, ngân hàng, tài chính, chứng khoán, bảo hiểm…Đồng thời chuyển đầu tư vốn tri thức từ các ngành truyền thống sang các ngành có hàm lượng tri thức cao. Ở các nước có nền kinh tế đang phát triển, đầu tư càng nhiều vốn tri thức thì mang lại giá trị gia tăng cang lớn, tỷ xuất lợi nhuận càng tri thức trong kinh tế tri thức đóng vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Vốn tri thức ở đây bao gồm các công nhân tri thức, các nhà quản lý có trình độ cao, các công nghệ tri thức đóng vai trò to lớn trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển. Sự xuất hiện kinh tế tri thức vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các nước kém và đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia kém và đang phát triển phải nhanh chóng tiếp cận với kinh tế tri thức, thông qua tri thức hóa các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đặc biệt sớm hình thành các công nghệ cao để nhanh chóng đưa nền kinh tế đất nước đuổi kịp các nước phát Vai trò tri thức đối với chính trịTri thức đem lại cho con người những sự hiểu biết, kiến thức. Người có tri thức là có khả năng tư duy lý luận, khả năng phân tích tiếp cận vấn đề một cách sát thực, đúng đắn. Điều này rất quan trọng, một đất nước rất cần những con người như vây để điều hành công việc chính trị. Nó quyết định đến vận mệnh của một quốc gia. Đại hội VI của Đảng đã đánh dấu một sự chuyển hướng mạnh mẽ trong nhận thức về nguồn lực con người. Đại hội nhấn mạnh “Phát huy yếu tố con người và lấy việc phục vụ con người làm mục đích cao nhất của mọi hoạt đông” chiến lược phát triển con người đang là chiến lược cấp bách. Chúng ta cần có những giải pháp trong việc đào tạo cán bộ và hệ thống tổ chức Tuyển chọn những người học rộng tài cao, đức độ trung thành với mục tiêu xã hội chủ nghĩa, thuộc các lĩnh vực, tập trung đào tạo, bồi dưỡng cho họ những tri thức còn thiếu và yếu để bố trí vào các cơ quan tham mưu hoạch định đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước với những qui định cụ thể về chế độ trách nhiệm quyền hạn và lợi xếp các cơ quan nghiên cứu khoa học –công nghệ và giáo dục-đào tạo thành một hệ thống có mối liên hệ gắn kết với nhau theo liên ngành, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hợp tác nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Hợp nhất các viện nghiên cứu chuyên ngành vào trường đại học và gắn kết trường đại học và các công ty, xí nghiệp. Các cơ quan nghiên cứu và đào tao được nhận đề tài, chỉ tiêu đào tạo theo chương trình, kế hoạch và kinh phí dựa trên luận chứng khả thi được trách nhiệm của người đứng đầu cơ năm theo định kỳ có những cuộc gặp chung giữa những người có trọng trách và các nhà khoa học đầu ngành của các cơ quan giáo dục-đào tạo và trung tâm khoa học lớn của quốc gia, liên hiệp các hội khoa học Việt Nam…với sự chủ tri của đồng trí chủ tịch, sự tham gia của các thành viên Hội đồng giáo dục -đào tạo và khoa học-công nghệ quốc gia về những ý kiến tư vấn, khuyến nghị của tập thể các nhà khoa học với Đảng và nhà nước về định hướng phát triển giáo dục-đào tạo. Phát triển khoa học –công nghệ, cách tuyển chon và giao chương trình đề tài, giới thiệu những nhà khoa học tài năng để viết giáo khoa, giáo trình, làm chủ nhiệm chương trình, đề tài và tham gia các hội đồng xét duyệt, thẩm định nghiệm thu các chương trình, đề tài khoa học cấp Nhà hiệp các hội khoa học Việt Nam cần thường xuyên và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học, dân chủ thảo luận để đưa ra được những ý kiến tư vấn, những khuyến nghị xác thực có giá trị với Đảng, Nhà nước và động viên tập hợp lực lượng các hội viên tiến quân mạnh mẽ vào các lĩnh vực khoa học và công nghệ mà đất nước đang mong chờ để sớm thoát khỏi tình trạng nghèo và kém phát Vai trò tri thức đối với văn hóa-giáo dụcTri thức cũng có vai trò rất lớn đến văn hóa -giáo dục của một quốc gia. Nó giúp con người có được khả năng tiếp cận, lĩnh hội những kiến thức, ý thức của con người được nâng cao. Và do đó nền văn hóa ngày càng lành mạnh. Có những hiểu biết về tầm quan trọng của giáo dục. Từ đó xây dựng đất nước ngày càng lớn mạnh, phồn vinh.

xã hội tri thức